Thứ Ba, ngày 28 tháng 1 năm 2014

Dịch vụ tư vấn kết hôn nước ngoài của Việt Tín

Là một trong các hãng luật lớn nhất cả nước, Việt Tín chúng tôi có cung cấp dịch vụ tư vấn kết hôn nước ngoài cho các bạn trẻ đang vướng mắc các thủ tục hồ sơ để kết hôn với nước ngoài, nếu các bạn đang muốn kết hôn nhưng lại không biết nên làm các thủ tục gì hãy liên hệ ngay tới Việt Tín nhé !

Việt Tín của chúng tôi chuyên tư vấn xin kết hôn với người nước ngoài nên các bạn hoàn toàn có thể an tâm dịch vụ của chúng tôi là nhanh nhất và tiết kiệm thời gian nhất, chúng tôi với kinh nghiệm của mình sẽ tư vấn cho các bạn các thủ tục cần thiết nhất để đăng ký kết hôn, hướng dẫn các bạn tận tình !

Hãy liên hệ ngay tới Việt Tín để được tư vấn thêm nhé !
Chúc các bạn thành công !

Thứ Hai, ngày 11 tháng 2 năm 2013

Lưu ý khi đăng ký kết hôn với người nước ngoài

1. Khi đến nộp hồ sơ kết hôn hai bên nam nữ phải có mặt và xuất trình CMND, Hộ chiếu, Thị thực nhập cảnh, Sổ hộ khẩu. Trong trường hợp chỉ có mặt một bên đến nộp hồ sơ thì bên vắng mặt (là người đang cư trú ở nước ngoài) phải có giấy ủy quyền được chứng thực hợp lệ. Giấy ủy quyền ghi rõ nội dung ủy quyền nộp hồ sơ kết hôn và lý do ủy quyền.
2. Ngày phỏng vấn được ấn định và ghi trực tiếp trên biên nhận nộp hồ sơ. Khi nhận Giấy chứng nhận kết hôn phải có đầy đủ 2 bên nam, nữ, xuất trình CMND, Hộ chiếu, Visa để ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn.
3. Các văn bản bằng tiếng nước ngoài phải nộp bản chính, kèm bản dịch ra tiếng Việt của cơ quan có thẩm quyền.
- Văn bản được cấp từ cơ quan Đại diện ngoại giao của nước ngoài đang trú đóng tại Việt Nam thì do Bộ Ngoại giao Việt Nam hoặc cơ quan Ngoại vụ được Bộ Ngoại giao Việt Nam ủy nhiệm hợp pháp hóa (trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo qui định của Bộ Ngoại giao).
- Văn bản được cấp từ nước ngoài do cơ quan Lãnh sự Việt Nam tại nước đó hợp pháp hóa (trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự).
- Trường hợp văn bản được cấp từ nước ngoài đã mang về Việt Nam nhưng chưa được hợp pháp hóa thì văn bản này phải thông qua cơ quan Ngoại giao của nước họ đang trú đóng tại Việt Nam thị thực. Sau đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam hay cơ quan Ngoại vụ được Bộ Ngoại giao Việt Nam ủy nhiệm hợp pháp hóa (trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại theo công văn 246-CV/NGLS ngày 31/05/2005 của Bộ Ngoại giao).
- Đối với công dân có quốc tịch Pháp ngoài giấy xác nhận hiện tại không có vợ hoặc không có chồng còn phải được Tổng Lãnh sự quán Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận khả năng kết hôn (Công hàm số 472/AL ngày 12/5/2003 của Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Việt Nam).
4. Sau ngày hẹn trả hồ sơ 07 ngày nếu 2 bên nam nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì hồ sơ sẽ bị huỷ bỏ (không hoàn lại lệ phí). Trường hợp có lý do chính đáng, có yêu cầu khác về thời gian phải có đơn trình bày và hẹn ngày đến ký Giấy chứng nhận kết hôn, nhưng thời hạn kéo dài thêm không quá 90 ngày. Hết thời hạn này nếu các đương sự vẫn có yêu cầu kết hôn thì phải làm lại thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu (không hoàn lại lệ phí).
5. Địa chỉ cơ quan liên hệ:
- Phòng Tư pháp các quận, huyện (để chứng thực sao y bản chính và dịch thuật).
- Sở Ngoại vụ thành phố, số 06 Alexandre Rhodes, quận 1 (để hợp pháp hóa các giấy tờ).
- Khám sức khỏe tâm thần tại thành phố Hồ Chí Minh:
+ Trung tâm sức khỏe tâm thần số 192 đường Bến Hàm Tử, phường 1, quận 5.
+ Bệnh viện Chợ Rẫy số 201B đường Nguyễn Chí Thanh, phường 12, quận 5.

Người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam có thể xin nhập quốc tịch Việt Nam

Xin hỏi quý báo, quy định pháp luật về trường hợp người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam (vợ chồng sinh sống và làm việc tại Việt Nam) thì có thể xin nhập quốc tịch Việt Nam không; hồ sơ xin nhập quốc tịch gồm những giấy tờ gì và nếu được nhập quốc tịch Việt Nam thì có phải thôi quốc tịch nước ngoài hay không?
Trần Tố Nguyên (Hà Đông, Hà Nội)

- Căn cứ quy định tại Điều 19, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, thì với trường hợp bạn hỏi: Công dân nước ngoài đã kết hôn với công dân Việt Nam (là vợ, chồng của công dân Việt Nam) nếu có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam, chồng bạn cần có đủ các điều kiện sau: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam; b) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; Tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì: Người nhập quốc tịch Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (cụ thể: a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép.

Trong trường hợp bạn hỏi là vợ hoặc chồng của công dân Việt Nam thuộc khoản 2 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 nên không phải thôi quốc tịch nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam; Người xin nhập quốc tịch phải có tên gọi Việt Nam, tên gọi này do người xin nhập quốc tịch Việt Nam lựa chọn và được ghi rõ trong quyết định cho nhập Quốc tịch Việt Nam; việc nhập Quốc tịch Việt Nam không làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 20 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, Hồ sơ xin nhập quốc tịch gồm có các giấy tờ sau: Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam; Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế; Bản khai lý lịch; Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam và Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ; Giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt; Giấy tờ chứng minh về chỗ ở, thời gian thường trú ở Việt Nam; Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam. Tuy nhiên, trường hợp bạn hỏi là kết hôn hợp pháp với công dân Việt Nam nên được miễn các giấy tờ tương ứng sau: Giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt; Giấy tờ chứng minh về chỗ ở, thời gian thường trú ở Việt Nam; Giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam.

Người xin nhập quốc tịch Việt Nam nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú.

Thứ Hai, ngày 04 tháng 2 năm 2013

Thông tin chung về thủ tục kết hôn với người nước ngoài

"Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn gồm: UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân VN; cơ quan đại diện ngoại giao (đại sứ quán, lãnh sứ quán VN) ở nước ngoài; UBND cấp xã khu vực vùng biên giới...", luật sư Vũ Thị Hiên trả lời về thủ tục kết hôn với người nước ngoài.

Tại điều 103 Luật Hôn nhân gia đình quy định: Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài cũng phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

* Về thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài:

Theo quy định tại điều 102 Luật Hôn nhân gia đình; điều 3, điều 12 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn gồm: UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam; cơ quan đại diện ngoại giao (đại sứ quán, lãnh sứ quán VN) ở nước ngoài; UBND cấp xã nơi khu vực vùng biên giới thực hiện đăng ký kết hôn cho công dân thường trú trong khu vực biên giới kết hôn với công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới.

Như vậy nếu bạn muốn đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì phải căn cứ vào việc bạn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh nào thì UBND tỉnh đó sẽ có thẩm quyền thực hiện đăng ký kết hôn cho bạn.

* Về trình tự thủ tục:

- Thứ nhất hồ sơ đăng ký kết hôn:

Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 69/2006/NĐ-CP, hồ sơ đăng ký kết hôn bao gồm:

a) Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định;

b) Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân của mỗi bên, do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa quá 6 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng. (Đối với đương sự là người nước ngoài phải căn cứ vào quy định của nước đó về thẩm quyền cấp các loại giấy tờ trên)

Trong trường hợp pháp luật của nước mà người xin kết hôn là công dân không quy định cấp giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân thì có thể thay giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bằng giấy xác nhận lời tuyên thệ của đương sự là hiện tại họ không có vợ hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó;

c) Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

d) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng minh nhân dân (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài);

đ) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc giấy xác nhận đăng ký tạm trú có thời hạn (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).

Nếu công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật Nhà nước thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lý ngành cấp Trung ương hoặc cấp tỉnh, xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật Nhà nước hoặc không trái với quy định của ngành đó

Các Giấy tờ trên được lập thành 2 bộ hồ sơ và nộp tại Sở Tư pháp.

- Thứ hai về thủ tục nộp hồ sơ: Theo quy định tại khoản 3 điều 13 và điều 14 Nghị định số 68 đối với trường hợp kết hôn tại của chị hồ sơ đăng ký kết hôn sẽ được nộp tại Sở tư pháp, "khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn, cả hai bên đương sự phải có mặt. Trong trường hợp có lý do khách quan mà một bên không thể có mặt được thì phải có đơn xin vắng mặt và ủy quyền cho bên kia đến nộp hồ sơ. Không chấp nhận việc nộp hồ sơ đăng ký kết hôn qua người thứ ba”.

* Liên quan tới vấn đề xin cấp thẻ tạm trú của Người nước ngoài vào Việt Nam chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ Thông tư liên tịch số 4/2002/TTLT-BCA-BNG ngày 29/1/2002, việc đăng ký tạm trú cho người nước ngoài (bao gồm người nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài, người không quốc tịch) được thực hiện như sau:

- Chủ nhà nơi người nước ngoài tạm trú làm thủ tục khai báo tạm trú tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thành phố Hà Nội. Nội dung khai báo: Xuất trình hộ chiếu, tờ khai xuất nhập cảnh, chứng nhận tạm trú và thị thực (nếu thuộc diện có thị thực); khai vào bản khai tạm trú theo mẫu. Cụ thể trong trường hợp này, người nước ngoài phải khai báo tạm trú thông qua chủ khách sạn tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tại thành phố Hà Nội.

- Lập danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú và nộp tại công an phường xã sở tại và thông báo số lượng người nước ngoài tạm trú cho công an phường xã sở tại biết;

- Cán bộ quản lý xuất nhập cảnh tiếp nhận hồ sơ kiểm tra tính pháp lý và nội dung hồ sơ:

Trường hợp hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ thì viết giấy biên nhận trao cho người nộp và yêu cầu nộp lệ phí cho cán bộ thu lệ phí. Cán bộ thu lệ phí nhận tiền, viết biên lai thu tiền và giao giấy biên nhận cùng biên lai thu tiền cho người nộp hồ sơ.

Trường hợp hồ sơ thiếu, hoặc không hợp lệ thì cán bộ tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn để người đến nộp hồ sơ làm lại cho kịp thời.

- Nhận thẻ tạm trú tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an thành phố Hà Nội.

- Người nhận đưa giấy biên nhận, biên lai thu tiền để đối chiếu. Cán bộ trả kết quả kiểm tra và yêu cầu ký nhận, trả thẻ tạm trú cho người đến nhận kết quả.

Vai trò của cơ quan, đoàn thể



Khoản 2, điều 3, Luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) quy định: “Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận động cán bộ, công chức, các thành viên của mình và mọi công dân xây dựng gia đình văn hóa; thực hiện tư vấn về HN&GĐ; kịp thời hòa giải mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình”. Điều 108 cũng quy định rõ ràng về việc xử lý vi phạm pháp luật HNGĐ của người có chức vụ, quyền hạn.


Tuy nhiên, trên thực tế, “dịch” ngoại tình lan rộng và ngày càng tấn công vào công sở nhưng xem ra cơ quan, tổ chức lại yếu thế trong việc can thiệp, xử lý những vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng của cán bộ, viên chức. Những bà vợ, ông chồng khi bị “cắm sừng” chỉ quáng quàng đánh ghen hoặc nộp đơn ở những nơi quen thuộc như đoàn thể địa phương, tòa án quận mà bỏ quên một kênh rất quan trọng được luật pháp giao trọng trách hàn gắn vết nứt gia đình - nơi làm việc của mình hoặc vợ/chồng. Họ bỏ quên thì cơ quan “tội gì phải nhớ”, khiến cho trách nhiệm vun đắp hậu phương này cứ dần teo tóp!

Thực tế cho thấy, nhiều cơ quan chỉ quản lý người lao động trong tám giờ hành chính, ngoài giờ thì không cần biết. Trong khi đó, một cô giáo không thể dạy tốt nếu cứ quay xuống giảng bài, quay lên bảng lại trào nước mắt vì tối qua vợ chồng lục đục. Một anh công an không thể tập trung vào nghiệp vụ nếu đầu óc luôn lởn vởn câu hỏi “phải chăng bà xã đã “điều tra” được số điện thoại của cô bồ?”. So với sự can thiệp, hòa giải ở địa phương, nơi làm việc có một số lợi thế khi giải quyết vi phạm Luật HN&GĐ. Cơ quan có nhiều thời gian và có thể áp dụng nhiều hình thức tiếp cận từ thuyết phục thân tình đến sử dụng biện pháp mạnh. Là nơi quản lý sâu sát nhân viên, ban giám đốc và công đoàn sẽ hiểu rõ tâm tư, tính cách từng người, có thể tận dụng nhiều mối quan hệ để tác động nhân viên quay về đường ngay lối thẳng. Quy chế của từng cơ quan cũng đã quy định các mức thưởng phạt hẳn hoi, đánh thẳng vào quyền lợi thực tế của nhân viên. Nhưng, sự can thiệp của các cơ quan hiện nay nhìn chung rất lu mờ, xử theo lệ, mỗi nơi mỗi cách.

Nhiều cơ quan ban đầu cũng sốt sắng giúp đỡ khổ chủ, nhưng dần thì lơ là vì không tìm được tiếng nói hợp tác của bà vợ ghen ẩu, hoặc thích “phá cho hôi, cho chồng hết đường sống” chứ không phải tìm cách mềm mỏng để kéo chồng về từ tay một người phụ nữ khác. Vả lại, một bà vợ có dấu hiệu ghen tuông thì khó kết nối được với đồng nghiệp của chồng. Nhiều ông biết đồng nghiệp quan hệ ngoài luồng nhưng vẫn bao biện, che giấu, “giúp bạn vượt khó”. Ngày nay, không ít cán bộ cấp cao cũng vướng vào “vòng xoáy tình yêu”. Khi đó, việc xử lý “chuyện nhà sếp” là một áp lực không dễ vượt qua của cấp dưới, vì cán bộ đứng đầu cơ quan (hoặc cấp phó) là chủ tịch đương nhiên của hội đồng kỷ luật gồm năm người (theo Nghị định số 35/2005/NĐ-CP quy định việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức vi phạm các quy định của pháp luật).

Những “khó khăn” khi thực thi hai điều khoản được quy định trong Luật HN&GĐ trên đây xuất phát từ việc luật ghi quá chung chung, sơ sài; dễ giúp những người vi phạm trốn tránh; những người có trách nhiệm “né” để khỏi phiền phức. Nếu hai điều khoản này chặt chẽ hơn, rõ ràng hơn, sẽ dễ dàng thực thi hơn.

Giải quyết ly hôn với người mất năng lực hành vi dân sự

Chị V. (30 tuổi) đang khổ sở vì “mắc kẹt” trong cuộc hôn nhân của mình. Đầu năm 2010, trong một lần đến ngân hàng, chị quen anh C. (32 tuổi) - là nhân viên giao dịch.


Sau bốn tháng tìm hiểu, hai người tiến tới hôn nhân. Sau hai năm chung sống, có một con chung, chị V. bắt đầu nhận ra chồng có những biểu hiện bất thường: ảo tưởng về bản thân, ghen tuông vô lối, giấu quần áo vợ không cho đi làm. Sau đó, anh C. bị buộc thôi việc do có những sai sót trong công việc. Tìm hiểu, chị V. phát hiện chồng chị có tiền sử bệnh tâm thần nhưng gia đình anh đã giấu chị với suy nghĩ “hôn nhân giúp lành bệnh”. Vì thế, chị đã gửi đơn đề nghị tòa trưng cầu giám định bệnh của chồng để làm thủ tục ly hôn. Đề nghị của chị không dễ thực hiện bởi anh C. và người thân khẳng định anh không hề có bệnh, trong khi theo luật, tòa không thể cưỡng chế giám định, chỉ có thể tiến hành một phiên xử… bình thường. Tòa án quận đã không chấp thuận cho chị ly hôn vì mâu thuẫn chưa đến nỗi trầm trọng, việc chị “nghi” chồng bệnh chỉ dựa vào cảm tính.

Tương tự, gia đình anh D. lại điêu đứng bởi không thể ly hôn “giùm” con trai. Theo chị S. - em gái anh D., anh lập gia đình năm 1998. Hai năm qua, anh D. có biểu hiện mất năng lực hành vi dân sự. Từng làm giám đốc một xưởng may lớn nhưng do “có bệnh”, anh chỉ quẩn quanh trong nhà, bỏ hết mọi việc cho vợ quán xuyến. Đời sống vợ chồng nhìn bề ngoài có vẻ… ổn, kinh tế thuộc dạng dư dả nhưng nội tình lại nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên do, vợ anh D. có quan hệ ngoài luồng, trong khi anh D. thì “tưng tửng” trong nhà, trong xóm. Biết anh bệnh, gia đình anh nhiều lần đề nghị vợ anh chấm dứt cuộc hôn nhân, phân chia tài sản để có điều kiện chăm sóc anh tốt hơn, nhưng vợ anh kiên quyết từ chối. Muốn giải quyết cuộc hôn nhân này, gia đình anh đứng ra viết đơn nhờ tòa trưng cầu giám định bệnh, tiến đến ly hôn thì tòa không thụ lý, bởi theo điều 85, chương X, Luật HN-GĐ, chỉ vợ/chồng hoặc cả hai mới có quyền yêu cầu tòa giải quyết ly hôn.

Từ thực tế của hai gia đình trên, thiết nghĩ, Luật HN-GĐ nên xem xét sửa đổi, bổ sung việc cưỡng chế trưng cầu giám định bệnh khi có yêu cầu, dựa trên thực tế hành vi, cư xử của đương sự trong mối quan hệ bạn bè, người thân, gia đình. Việc giải quyết ly hôn cho người bị “nghi” mất năng lực hành vi dân sự là cần thiết, đáng phải quan tâm, nhằm tránh những hậu quả xấu. Đồng thời, bệnh của đương sự qua đó sớm được phát hiện (nếu có) để có những can thiệp kịp thời, tránh nguy cơ bệnh kéo dài, tăng nặng.

Một bất cập khác trong vấn đề hôn nhân đối với người mất năng lực hành vi dân sự là ở điều 10, chương II, quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn, song lại không có quy định nào bắt buộc phải tiến hành khám sức khỏe tiền hôn nhân, dẫn đến nhiều hệ lụy khi có những đôi vợ chồng đến với nhau qua mai mối, thời gian tìm hiểu ngắn ngủi, theo sự sắp đặt của người thân. Do đó, luật cần chặt chẽ hơn, bắt buộc phải khám sức khỏe tiền hôn nhân nhằm tránh những hệ lụy đáng tiếc.

Bên cạnh đó, trong trường hợp xử ly hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự, theo điều 21, chương III, vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được tòa chỉ định làm người đại diện cho người đó. Tức, trong phiên xử ly hôn, vợ hoặc chồng sẽ phải tham gia với hai tư cách, vừa là nguyên đơn lại vừa là đại diện cho bị đơn. Nhiều luật sư cho rằng, điều này là không thể, bởi quyền lợi hai bên (bao gồm tài sản) đang ở thế đối lập. Thực tế trong những phiên xử như vậy, tòa sẽ linh hoạt chỉ định người giám hộ là cha mẹ, anh chị hay con cái đã trưởng thành. Điều đó cho thấy giữa luật và thực tế “chênh” nhau, cần sửa đổi để phù hợp hơn.

Nên có quy định về tiền hôn nhân

Ở một số nước, có quy định nam nữ muốn kết hôn phải có một chứng chỉ tiền hôn nhân (prenuptial certificate) do một số cơ quan có thẩm quyền cấp. Chứng chỉ đó không ngăn cấm sự kết hôn nhưng cho người trong cuộc hiểu tình trạng thực tế sức khỏe và tâm sinh lý của mình để họ tự lựa chọn nên kết hôn hay không, hoặc có nên sinh con hay không…


Khi đến khai tại cơ quan có thẩm quyền, những người muốn kết hôn sẽ cung cấp các thông tin như các bệnh cũ của bản thân và của người thân (để xem có khả năng có những bệnh di truyền nào không). Người sắp kết hôn sẽ được khám kỹ về cơ thể (tim, phổi, gan, thận, thần kinh, cơ quan sinh dục), về tâm thần, về tình cảm… sau đó được tư vấn những điều cần thiết về mục đích của hôn nhân, về tâm sinh lý, về tình dục và các kiến thức về sức khỏe sinh sản khác. Sau cùng, hai người phải tiến hành thử máu, để xem bản thân họ có mắc bệnh gì không, có nguy cơ gây ra những bệnh gì không và xem nếu hai nhóm máu này kết hợp với nhau thì con cái của họ có nguy cơ gây ra những bệnh gì không… Họ được cơ quan (có thể là các tổ chức y tế hoặc các bác sĩ gia đình được nhà nước cho phép) này cấp cho một chứng chỉ tiền hôn nhân.



Một buổi sinh hoạt của đại diện các mô hình tập hợp nữ thanh niên (CLB Tiền hôn nhân, CLB Nữ công nhân nhà trọ...) do hệ thống Hội PN tổ chức.

Một chứng chỉ tiền hôn nhân như vậy hiện nay ở xã hội ta là rất cần thiết. Nó giúp nam nữ thanh niên “tự liệu” về cuộc hôn nhân sắp tới, tránh bị lừa dối và nhất là hạn chế được các rủi ro, hậu quả do không được khuyến cáo trước. Chẳng hạn, một người muốn kết hôn với người đã biết rõ là người đó nhiễm HIV thì luật pháp không cấm vì cả hai tự nguyện; nhưng trong trường hợp một người đã biết mình nhiễm HIV (hoặc đang ở “thời kỳ cửa sổ”) nhưng không thông báo cho người kia biết, như vậy khi lấy nhau, người giấu tình trạng bệnh đã lừa dối người kia, nếu lây bệnh cho người kết hôn với mình thì dù có bị xử lý theo luật cũng để lại hậu quả nghiêm trọng cho người kia.

Trong trường hợp khác, một số người có nhóm máu nếu kết hợp với nhau thì có khả năng tạo ra những loại bệnh cho con của họ; do đó nếu biết trước họ sẽ có nhiều phương án lựa chọn hơn. Ngay cả các hành vi tình dục dù hiện được cho là khá thoải mái, tự do nhưng xa hơn là vấn đề sức khỏe sinh sản lại còn hạn chế. Các hiểu biết về trinh tiết, thụ thai, tránh thai… nhiều khi còn mơ hồ và quá nặng tính truyền thống hoặc “rỉ tai” nên có nhiều điểm không phù hợp với khoa học. Do vậy, để có chứng chỉ tiền hôn nhân, những người muốn kết hôn sẽ được hướng dẫn, giải thích rõ hơn về vấn đề này. Ngoài ra, hiện nay, việc hiến (bán) tinh trùng, trứng cũng có thể dẫn đến tình trạng vô tình kết hôn cận huyết. Giải quyết được những điều đó có tác dụng giúp cụ thể, trực tiếp cho “người trong cuộc” để họ có sự chuẩn bị, lựa chọn cần thiết trước khi bước vào cuộc sống hôn nhân, sâu xa hơn là tạo ra những thế hệ người Việt Nam mới khỏe mạnh, góp phần cải thiện thể trạng giống nòi, đồng thời xây dựng gia đình bền vững, hạnh phúc.

Từ đó, xin đề xuất một số ý kiến có thể đưa vào trong Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi như sau:

-Đặt ra quy định về “chứng chỉ tiền hôn nhân” và khuyến khích các địa phương thực hiện trong điều kiện cụ thể của mình, trước mắt là các đô thị, và tập trung vào các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Để khi xã hội làm quen với quy định này, trong lần sửa luật sau có thể đưa vào thành một quy định bắt buộc (chứ không phải khuyến khích nữa).

-Dần hình thành các quy tắc, thiết chế về tiền hôn nhân. Trước mắt, hai tổ chức Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên nên tiến hành ngay việc đưa ra các thông tin về tiền hôn nhân (nếu có thể thì cấp chứng chỉ) cho các đoàn viên, hội viên, từ đó lan dần xa toàn xã hội. Chẳng hạn, Nhà Văn hóa Phụ nữ TP.HCM nên được trao quyền cấp chứng chỉ này dành cho những người tự nguyện đến tìm hiểu, xét nghiệm, qua sự phối kết hợp với các tổ chức y tế có thẩm quyền.
-Cần chú ý kết hợp chặt chẽ cả ba mặt xét nghiệm, tư vấn và giáo dục với nhau. Xét nghiệm đưa ra các căn cứ khoa học để có thể tư vấn các xử sự, lựa chọn cho người muốn kết hôn, giáo dục là làm cho nam nữ thanh niên nên lựa chọn cách nào tốt nhất cho bản thân, cho gia đình, cho thế hệ mai sau mà cho xã hội cũng như có các ứng xử phù hợp trong đời sống hôn nhân. Chẳng hạn, Những cặp vợ chồng có tiền sử gia đình bị tăng sản thượng thận bẩm sinh nên có sự tư vấn về di truyền học trước khi có con. Tổ chức cấp chứng chỉ hôn tiền sẽ tư vấn về các biểu hiện, hậu quả của bệnh này (thông qua các trường hợp cụ thể) để hai người quyết định nên có con hay không, nếu có con thì phải làm sao, nếu không có con thì đời sống hôn nhân sẽ như thế nào, có nên xin con nuôi không, nếu nuôi con nuôi thì phải làm sao…

Tóm lại, chứng chỉ tiền hôn nhân đối với nước ta là việc khá mới mẻ, bước đầu thực hiện có khó khăn. Nhưng không vì thế mà luật pháp chưa điều chỉnh. Ở giai đoạn đầu có thể có tính “mở” để xã hội dần làm quen, sau đó cần có quy định cụ thể, chặt chẽ hơn.